Home Tài Liệu - Văn Thơ - Nghệ Thuật Tài Liệu - Văn Thơ - Nghệ Thuật Hoạt cảnh Canh Thức Mừng Lễ Giáng Sinh - Năm Đức Tin

Hoạt cảnh Canh Thức Mừng Lễ Giáng Sinh - Năm Đức Tin

E-mail Print PDF


Lm Giuse Nguyễn Hữu An

 



CHỦ ĐỀ: Chúa Giêsu Kitô “là nguồn mạch và cùng đích của đức tin” (Dt 12, 2).

A. TỔNG QUÁT

* KHAI MẠC : Hát “Trời cao”- Tâm tình Mùa Vọng (Ca đoàn Giáo xứ)

* PHẦN 1: SÁNG THẾ: Thiên Chúa sáng tạo và phục vụ con người.
+ NHÂN VẬT: Ađam + Eva (G.L.V phụ trách)
Một số con vật, cây cối, mặt trời, mặt trăng, tinh tú… (Do các em Mẫu giáo Tuổi thơ hoá trang – các Dì phụ trách).
+ HÌNH THỨC : Ca vũ cảnh.
+ KHUNG CẢNH : Sân khấu để trống, chuẩn bị điện phối hợp ca cảnh.
+ THỰC HIỆN : Các Dì + G.L.V.

* PHẦN 2: Tổ phụ Abraham, mẫu mực đức tin: TRUNG THÀNH VÀ GẮN BÓ VỚI THIÊN CHÚA.
+ NHÂN VẬT : Giọng nói Thiên Chúa. Abraham, Sara, Isaác. 03 “Người của Thiên Chúa”.
+ HÌNH THỨC : Hoạt cảnh, gồm ba tiểu phẩm sau:
- Chúa gọi Abraham.
- Tiếp đón “Người của Thiên Chúa”
- Sát tế Isaác.
+ KHUNG CẢNH : cảnh vật tự nhiên, gia thất, đồi sát tế.
+ THỰC HIỆN : Gia trưởng và Hiền mẫu.
+ THÁNH CA PHỤ HOẠ : (Ca đoàn Hiền mẫu).

* PHẦN 3: ĐỨC MARIA: Gương mẫu Niềm Tin tuyệt vời.
+ NHÂN VẬT : Sứ thần, Maria, Giacaria, Êlisabet.
+ HÌNH THỨC : Hoạt cảnh, gồm 2 tiểu phẩm sau:
- Truyền tin.
- Thăm viếng.
+ KHUNG CẢNH : Cảnh gia thất Maria và Giacaria.
+ THỰC HIỆN : G.L.V.
+ THÁNH CA PHỤ HỌA : (Ca đoàn Gia trưởng).

* PHẦN 4: CHÚA GIÁNG SINH: MẦU NHIỆM ĐỨC TIN
+ Nhân vật: Giuse, Maria, các Thiên thần, mục đồng.
+ Hình thức: ca cảnh, diễn điệu, gồm các tiểu vũ sau:
- Giuse và Maria dìu nhau đến hang đá Bêlem.
- Thiên Thần múa hát mừng Chúa Giáng Sinh.
- Các mục đồng thờ lạy Chúa.
+ THỤC HIỆN : Quý Dì, các em mẫu giáo Tuổi thơ, Lễ sinh, GLV.


B. NỘI DUNG CỤ THỂ

KHAI MẠC :


* LỜI GIỚI THIỆU :

Kính thưa Quý Tu sĩ, cùng toàn thể Cộng đoàn!

Năm 2012 là năm thứ nhất trong kế hoạch ba năm triển khai Thư Chung của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam sau Đại Hội Dân Chúa 2010 để đào sâu và sống chiều kích Mầu Nhiệm của Giáo Hội.

Năm 2012 cũng là năm kỷ niệm lần thứ 50 khai mạc Công Đồng Vaticanô II.Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI đã ấn định từ ngày 11/10/2012 đến 24/11/2013 là "Năm Đức Tin" nhằm giúp toàn thể Giáo Hội khám phá và đào sâu đức tin như hồng ân của Thiên Chúa để giới thiệu đức tin cách mới mẻ trong một thế giới ngày càng tỏ ra xem thường các giá trị của đức tin Kitô Giáo. (x.Thư Mùa Vọng 2012, ĐTGM Phêrô Nguyễn Văn Nhơn).

Ngày Chúa nhật 16/10/2011, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã công bố thiết lập một “Năm Đức Tin” bắt đầu từ 11 tháng 10 năm 2012, kỷ niệm 50 năm Công Đồng Vaticanô II và 20 năm xuất bản Sách Giáo Lý Chung của Hội Thánh Công Giáo.

Chúng ta sẽ bước vào Năm Đức Tin, do Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI vừa công bố trong Tông Thư “Cánh Cửa Đức Tin”.

Đức Thánh Cha viết: Trong thời điểm này, chúng ta cần phải chăm chú ngắm nhìn thẳng vào Đức Giêsu Kitô, “là nguồn mạch và cùng đích của đức tin” (Dt 12,2): nơi Người mọi lo âu và khát vọng của tâm hồn con người đều được thỏa mãn. Niềm vui của tình yêu, câu trả lời cho thảm trạng khổ sở và đớn đau, sức mạnh của tha thứ trước những xúc phạm phải chịu, và chiến thắng của sự sống trên sự trống rỗng của sự chết: tất cả đều tìm được sự hoàn tất trong mầu nhiệm nhập thể của Người, trong việc Chúa làm người, trong việc Người chia sẻ sự yếu đuối của chúng ta để biến đổi nó bằng quyền năng phục sinh của Người. Trong Người, là Đấng đã chết và sống lại để cứu độ chúng ta, những gương đức tin đã ghi dấu hai ngàn năm lịch sử cứu độ của chúng ta được đưa ra ánh sáng chan hòa. (x. Tông Thư “Cánh Cửa Đức Tin”, số 13).

Chúng ta tin một Thiên Chúa là Cha Toàn Năng, Đấng tạo thành trời đất, muôn vật hữu hình và vô hình. Chúng ta tin Chúa Giêsu Kitô là Con Một của Thiên Chúa, sinh bởi Đức Chúa Cha từ trước muôn đời, đã sinh ra làm người bởi Đức Trinh nữ Maria, đã chết trên Cây Thánh giá để chuộc tội chúng ta và đã sống lại vinh hiển, ngự bên hữu Đức Chúa Cha. Chúng ta tin Chúa Thánh Thần là Đấng ban Sự Sống, Ngài bởi Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con mà ra, Ngài cùng được phụng thờ và tôn vinh với Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con.

Mỗi ngày, khi làm dấu Thánh giá “Nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần”, chúng ta ý thức mình tuyên xưng các mầu nhiệm cơ bản nhất trong đức tin Kitô giáo, là mầu nhiệm “Ba Ngôi Thiên Chúa”, và mầu nhiệm Thánh giá Chúa Kitô. Cả hai mầu nhiệm ấy đều là mầu nhiệm Tình yêu, vì như Thánh Gioan nói, “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1 Ga 4, 8). Mầu nhiệm Ba Ngôi là mầu nhiệm Tình yêu nội tại ở trong Thiên Chúa: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần yêu nhau mật thiết đến nỗi là Một với nhau. Ba Ngôi chỉ là một Thiên Chúa Duy Nhất, dù không hề lẫn lộn với nhau. Thánh giá Chúa Giêsu biểu lộ cho chúng ta biết: Thiên Chúa muốn chia sẻ Tinh Yêu của Ngài cho chúng ta, mặc dù chúng ta là những kẻ có tội.

Tin vào Chúa Giêsu là tin Thiên Chúa là Tình Yêu và đã chia sẻ Tình Yêu cho chúng ta trong Chúa Giêsu, chính vì lẽ đó mà chúng ta hết sức hân hoan vui mừng. Niềm vui lớn nhất của cuộc đời chúng ta phát xuất từ niềm tin ấy. Tin Chúa Cha yêu thương chúng ta, đã ban Con Một của Ngài là Chúa Giêsu cho chúng ta. Tin Chúa Giêsu yêu thương chúng ta và đã chết vì ta, nhưng đã chiến thắng sự chết và đã sống lại cho chúng ta được sống. Tin Chúa Thánh Thần yêu thương chúng ta và ban Sự Sống cho ta, giúp ta gắn bó với Chúa Giêsu và Thiên Chúa.

Tâm hồn chúng ta tràn trề Hy vọng, vì tin cả Ba Ngôi Thiên Chúa đều yêu thương chúng ta và muốn cho chúng ta được hạnh phúc. Các Ngài muốn cho chúng ta đạt đến mục đích cao cả nhất, cũng là mục đích cuối cùng của cuộc đời chúng ta, là được chia sẻ Tình yêu và Sự Sống vĩnh hằng của các Ngài. Nhưng để đạt mục đích ấy, chúng ta phải trải qua cuộc sống trần gian, đầy những sóng gió và thử thách.(x.Thư Mùa Vọng 2012, ĐGM Phaolô Bùi Văn Đọc)

Sứ điệp ngày Truyền Giáo 2011, Đức Thánh Cha Bênêdictô XVI nhắn nhủ: Tin Mừng không phải là một món quà độc chiếm được ban cho ai đó, nhưng còn là một tặng vật cần được chia sẻ, một tin vui phải được loan truyền. Đây là trách nhiệm không chỉ uỷ thác cho một vài người, nhưng nhắm đến tất cả những ai đã được lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy”.

Trong Thư chung 2011, HĐGMVN ước mong “mỗi giáo phận, dòng tu, giáo xứ, gia đình, sẽ triển khai thành những hành động và việc làm cụ thể trong đời sống đức tin, góp phần thi hành sứ mệnh loan báo Tin Mừng trong xã hội hôm nay cách thiết thực và hiệu quả”. Mỗi người tùy vị trí và khả năng, “hãy góp phần tích cực vào việc xây dựng nền văn hóa sự sống và văn minh tình thương trên quê hương đất nước chúng ta” (số 48).

Những lời giáo huấn trên đây hướng về chân lý: Thiên Chúa là Tình yêu, tình yêu ấy đã hướng tới việc phục vụ con người qua công trình sáng tạo vĩ đại, qua lịch sử Cứu độ và qua cuộc nhập Thể Cứu thế nơi Chúa Giêsu Kitô mà chúng ta sẽ mừng kính Mầu nhiệm Giáng sinh của Ngài trong đêm nay.

Lần giở lại một vài đoạn Kinh thánh được diễn nguyện trong đêm Canh thức hôm nay, chúng ta cùng chiêm ngắm hai mẫu mực đức tin. Tổ phụ Abraham và Đức Trinh Nữ Maria. Chúng ta hãy dâng lên Thiên Chúa tình yêu lời cảm mến tri ân, lòng hân hoan vui mừng nhân biến cố mừng Chúa Giáng sinh để ban Ơn Cứu độ cho chúng ta không chỉ trong Đêm cực Thánh này, không chỉ trong Mùa Giáng sinh hồng phúc, mà trong suốt hành trình của Giáo hội, trong suốt cuộc đời chúng ta.

Giờ đây, để cho đêm Hoạt cảnh – Canh thức được bắt đầu, Cộng đoàn chúng ta hãy hiệp lời cùng Ca đoàn để diễn tả tâm tình mong chờ Chúa đến.

* Cộng đoàn đứng lên, mỗi người thắp nến sáng đưa cao và cùng hát bài “Trời Cao”.

I. PHẦN MỘT : SÁNG THẾ: Thiên Chúa sáng tạo và chia sẽ hạnh phúc cho con người.

(Sân khấu để tối, chỉ cần đủ ánh sáng cho người dẫn).

* LỜI DẪN :

Kính thưa cộng đoàn!

Câu đầu tiên của sách Sáng thế đã viết: “Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất, đất còn trống rỗng chưa có hình dạng, bóng tối bao trùm vực thẳm” (St 1,1-2).

Vâng, khi Thiên Chúa chưa sáng tạo muôn vật, vũ trụ này chỉ là hư vô, trống rỗng, chỉ có một mình Thiên Chúa ngự trị. Thiên Chúa là Tình yêu, Ngài không muốn gói gọn tình yêu trong Trái tim của Ngài, Ngài chỉ muốn mở Tình yêu ra, trao ban tất cả; mà sáng kiến đầu tiên của Tình yêu ấy là công trình tạo dựng trời đất muôn vật cách quyền năng và lạ lùng khôn tả. Sách Sáng thế ghi rằng: Thiên Chúa đã dùng Lời quyền năng và Thần khí để sáng tạo ra ánh sáng xoá tan đêm tối (Bật điện sáng), Người phân rẽ ánh sáng bóng tối (Tắt điện một chút rồi bật sáng ngày), Người tạo nên vũ trụ bao la với đầy đủ tinh tú (Bật các bóng trang trí), Người phân rẽ đất nước và sinh ra trên đó biết bao sinh vật (Các em hoá trang nhảy ra). Thiên Chúa thấy mọi sự rất tốt đẹp. Tuy nhiên, Thiên Chúa thấy vẫn còn thiếu một cái gì đó, Ngài nhìn muôn vật bơ vơ chưa có ai cai quản, Ngài liền nghĩ và thực hiện ngay ý định: “Ta hãy làm ra con người theo hình ảnh Chúng Ta, giống như Chúng Ta để con người làm bá chủ chim trời, cá biển và mọi giống vật trên mặt đất” (St 1,26); và thế là con người, tạo vật cuối cùng và cao trọng nhất đã được dựng nên để thay Chúa cai quản mọi vật (Ađam, Eva nắm tay nhau hạnh phúc bước ra trong làn nhạc êm). Và thế là công trình tuyệt diệu của Tình yêu đã hoàn tất. Đối với muôn vật, tình yêu của Chúa đã được phủ đều, tuy nhiên Tình yêu ấy hầu như được kết tụ nơi con người khi ban cho họ hai đặc ân tuyệt hảo đó là được giống Chúa, mang hình ảnh của Ngài và được cai quản muôn vật.

Như thế đấy, muôn vật, mọi trật tự kỳ diệu của vũ trụ và cả loài người cao trọng chúng ta đã được hình thành từ trong quyền năng và Tình yêu của Chúa. Tình yêu muốn được chia sẻ, Tình yêu để phục vụ. Chúng ta hãy hiệp cùng Ông bà Nguyên tổ, cùng muôn vật, vũ trụ hát lên lời ca tụng Chúa, cùng loan tin vui sáng tạo cho muôn người ở khắp mọi nơi.

* Vào vũ khúc: Muôn tạo vật ơi. (Thiếu nhi)

II. PHẦN HAI : Abraham, cha những kẻ tin.

* LỜI DẪN:

Thế rồi, theo lời Kinh thánh tường thuật, bản hoan ca phượng thờ của con người và muôn loài thụ tạo ở chốn địa đàng xưa dành cho Thiên Chúa tình yêu tưởng như là bất tận ấy đã mau chóng bị ngắt quãng mà nguyên nhân lại xuất phát từ phía con người – tạo vật lý tưởng của Thiên Chúa: nguyên tổ sa ngã, lòng ghen tương đố kỵ, tính ích kỷ, kiêu căng … đã đẩy con người đi vào con đường của ma quỷ: bội phản lại Thiên Chúa – Đấng vì yêu thương đã tạo dựng và phục vụ mình. Tuy nhiên, mặc cho con người tiếp tục dấn bước trên con đường bội phản, Thiên Chúa vẫn kiên trì tự mặc khải như một Đấng Thiên Chúa vô cùng chung thuỷ và thường hằng bất biến qua việc tuyển chọn và tinh luyện mà Ngài đã liên lỉ thực hiện dọc theo lịch sử Cứu độ để lôi kéo con người về lại với niềm tin đích thực.

Và trong dòng dõi bội phản, vẫn còn đó và sáng chói lên những khuôn mặt đã được Thiên Chúa tuyển chọn và tinh luyện, để qua đó, Ngài làm sáng tỏ những mẫu gương Đức Tin vào Thiên Chúa thật tuyệt hảo cho muôn đời hậu thế dọc theo lịch sử Cứu độ. Chúng ta hãy chiêm ngắm Abraham, một mẫu gương niềm tin sáng chói bằng sự trung thành và gắn bó với Thiên Chúa giữa cuộc đời.

Tổ phụ Abraham có quê hương miền Lưỡng Hà. Chúa gọi ông tại Haran, lúc ông 75 tuổi. Chúa hứa cho ông có một dòng dõi đông đúc như sao trên trời, như cát bãi biển (St 12,1-5). Chờ đợi mãi, dài đến 25 năm sau, bà Sara mới sinh cho ông được một người con duy nhất. Abraham bước vào tuổi 100, lời hứa của Thiên Chúa được thực hiện. Niềm vui quá lớn ngày con trẻ chào đời (St 21,1-7). Bồng ắm con trẻ, ông thấy một tương lai của cả một dân tộc hùng mạnh. Vợ chồng già hạnh phúc ngập tràn trong tiếng khóc tiếng cười trẻ thơ. Isaac là đứa con của lời hứa, là cây gậy nương tựa tuổi già. Hai ông bà yên tâm an hưởng những ngày còn lại trên trần thế.

Thế rồi vào một ngày kia, Chúa phán với ông: "Abraham, Abraham! Ngươi hãy đem Isaac, đứa con một yêu dấu của ngươi, và đi đến đất Moria, ở đó, ngươi sẽ dâng nó làm của lễ toàn thiêu trên núi Ta sẽ chỉ cho ngươi ". Tiếng sét ngang tai làm ông chết lặng. Lệnh truyền sát tế Isaac, vượt quá tầm nghĩ của con người. Lời chúc phúc của Thiên Chúa cho ông làm tổ phụ các dân tộc, sẽ thành mây khói. Lệnh truyền làm ông đau nhói ruột gan. Nhưng với niềm tin mãnh liệt, Abraham thi hành lập tức lệnh truyền ấy. Ngay khi ông đang giơ cao con dao để hạ sát con trai, Thiên Chúa đã ngăn cản bàn tay ông và mạng sống của Isaac được dành lại. Chúa phán: "Đừng giết con trẻ và đừng động đến nó, vì giờ đây Ta biết ngươi kính sợ Chúa, đến nỗi không từ chối dâng đứa con duy nhất cho Ta ".

Thư Do Thái viết: “Bởi tin, Abraham được kêu gọi vâng lời ra đi đến xứ ông sẽ lấy làm cơ nghiệp, ông ra đi mà chẳng biết mình đi đâu” (Dt 11,8). Tin là sẵn sàng làm theo lời Chúa dạy, hy vọng Chúa sẽ thực hiện điều Người hứa, dù trước mắt chưa thấy chút gì là hiện thực cả. Vâng lời Chúa, ông đã bỏ quê cha đất tổ lên đường, đã dám dâng Isaac làm lễ tế Thiên Chúa. Đức tin của ông quả là vững chắc, không do dự, không mặc cả. Vì một dạ tín trung với Chúa, Abraham đã nên “bạn thân của Thiên Chúa” (Gc 2,23) và Chúa gọi ông là “Tôi Tớ của Ta” và “Ta ở với ngươi” (St 26,24). Vì Chúa “Chúc lành cho các dân tộc trong dòng giống ông và dòng giống ông sẽ nên đông như cát biển” (Hc 44,21), nên ông là cha chúng ta trong đức tin.

* VÀO HOẠT CẢNH :

a) MÀN 1: CHÚA GỌI ABRAHAM.

(Màn mở, cảnh cánh đồng với đàn súc vật, Abraham đang cầm gậy, đứng quan sát đàn súc vật, bỗng có ánh sáng loá từ trời, Abraham giật mình hoảng sợ, lùi lại vài bước và sụp quỳ xuống, dần dần ngước đầu lên nhìn về phía ánh sáng chói).

Tiếng Chúa: Abram! Abram!

Abraham: Dạ, dạ, …, tôi đây!

Tiếng Chúa: Abram hãy nghe đây, hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi. Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn, Ta sẽ chúc phúc cho ngươi, Ta sẽ cho tên tuổi ngươi được lừng lẫy và ngươi sẽ là một mối chúc lành. Ta sẽ chúc phúc cho ai chúc phúc cho ngươi; ai nhục mạ ngươi, Ta sẽ nguyền rủa. Nhờ ngươi, mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc!

Abraham: (Vẻ bất ngờ, ngơ ngác, bàng hoàng; ánh sáng lịm dần) – Vâng, tôi xin nghe, lạy Chúa! (Hấp tấp đứng dậy và vội vã lùa súc vật đi vào).

Lời dẫn: Bất ngờ, bàng hoàng, khó chấp nhận … nhưng thái độ của Abraham lại hoàn toàn ngược lại: Ông mau mắn hiểu ra Thánh ý tốt lành của Thiên Chúa – Đấng ông hằng tôn thờ mà thực thi không tính toán (Nhạc êm, Abraham cùng Sara, Lot, một số giai nhân, một số súc vật hồ hởi đi ra vẻ rất vui và háo hức. Cả nhà cùng đứng lại vẻ ngắm nhìn vùng đất, bỗng có tiếng gọi từ trời)

Tiếng Chúa: Abram, ngươi hãy coi, đây là phần đất mà Ta sẽ ban cho dòng dõi ngươi. Trên phần đất này, Ta sẽ là khiên thuẫn đỡ cho ngươi và dòng dõi ngươi.

Abraham: (Hấp tấp quỳ xuống, ngước mắt lên trời, mọi người làm theo) – Lạy Đức Chúa là Chúa thượng, Chúa sẽ ban cho con cái gì, con ra đi mà không có con cái? Chẳng lẽ kẻ gia nhân lại là người thừa tự của con hay sao?

Thiên Chúa: Không, kẻ đó không là người thừa kế mà là người do chính ngươi sinh ra mới là thừa kế của ngươi. Ngươi hãy nhìn lên trời mà xem, ngươi có đếm nổi hết số sao đó không, rồi đây, dòng dõi ngươi sẽ đông như sao trên trời, như cát bãi biển, sẽ sở hữu phần đất này làm gia nghiệp. Trên phần đất này, Ta sẽ làm cho ngươi thành cha của nhiều dân tộc, Ta sẽ gọi ngươi là Abraham vì ngươi sẽ là cha của nhiều dân tộc. Hãy nghe đây, Ta là Thiên chúa toàn năng, ngươi hãy bước đi trước mặt ta và hãy sống hoàn hảo. Ta sẽ đặt giao ước của Ta giữa Ta với ngươi, và Ta, Ta sẽ cho ngươi trở nên đông thật đông, ngươi hãy tuân giữ giao ước của ta.

Abraham: (Cúi sấp mình xuống, mọi người cùng làm theo) – Lạy Thiên Chúa toàn năng, con tin và cảm tạ Ơn Người! (Mọi người ngẩng lên, đưa hai tay lên cao, ngước mặt lên trời).

b) MÀN 2: TIẾP ĐÓN NGƯỜI CỦA THIÊN CHÚA

(Màn mở, cảnh túp lều, một bụi cây, Sara ngồi trong lều, Abraham đang ngồi nghỉ mát nơi gốc cây, trong tiếng nhạc nền, bỗng có ba người chợt xuất hịên trước mặt Abraham).

Abraham: (giật mình, hốt hoảng đứng bật dậy, chạy vội ra và sụp lạy) – Thưa Ngài, nếu tôi được đẹp lòng Ngài, thì xin Ngài đừng đi qua mà không ghé thăm tôi tớ Ngài. Để tôi cho lấy chút nước, mời các Ngài rửa chân rồi nằm nghỉ dưới gốc cây. Tôi xin đi lấy ít bánh, để các ngài dùng cho chắc dạ, trước khi tiếp tục đi, vì các ngài đã ghé thăm tôi tớ các ngài đây!

Ba vị khách: (Vẻ hân hoan) – Xin chào người công chính của Đức Chúa, xin Ông cứ làm những gì như ông vừa nói! (Vui vẻ ngồi vào các cục đá nơi gốc cây)

Abraham: (Hối hả chạy vào lều, vừa chạy vừa gọi): - Bà Sara ơi, người của Đức chúa đến viếng thăm chúng ta đây! (Abraham vào lều, nói vọng ra) – Bà mau lấy ba thúng tinh bột mà nhồi và làm bánh – (gọi tiếp) – Giai nhân đâu? – (Có tiếng thưa vọng ra) – Dạ! – Mau bắt một con bê sữa làm thịt ngay để nhà ta đãi khách quý! – Dạ!

(Trong tiếng nhạc, cảnh giai nhân chạy qua chạy lại tất bật, Abraham ngồi tiếp chuyện Người của Chúa, cảnh dọn cơm, ba người khách ngồi vào bàn, Abraham ngồi tiếp).

Abraham: (Xởi lởi) - Xin mời, xin mời, bữa cơm đạm bạc này xin được làm ấm lòng các vị, chúc các vị ngon miệng! – (Bốn người cụng ly, vui vẻ).

Người của Chúa: (Như chợt nhớ ra) – À, Abraham này, bà Sara vợ ông đâu rồi?

Abraham: Thưa các vị, nhà tôi hay ngại lắm, bà ấy ở trong lều.

Người của Chúa: (Dí dỏm) – Ông có tin hay không thì tùy, nhưng sang năm, khi chúng tôi ghé lại đây, thì ông bà đã có một cu cậu con trai để bế rồi đấy! – (Cười)

Abraham: (Cười khẩy) – Các Ngài khéo đùa, tôi đã gần trăm tuổi, nhà tôi cũng đã là bà lão chín mươi, chuyện sinh đẻ ai lại dám mơ nữa!

(Bỗng văng vẳng tiếng cười khúc khích và tiếng nói vọng ra: Ôi dào, mình đã là một bà lão cằn cỗi, còn hưởng thú vui nữa sao? Ông ấy còn là một ông lão già nua, có mà chuyện lạ!)

Người của Chúa: (Nghiêm nét mặt) – Kìa Abraham, tại sao bà ấy lại không tin, lại cười chúng tôi mà nghĩ là người già mà sinh con có là chuyện lạ?

Abraham: (Ngạc nhiên, lúng túng, vẻ ngơ ngác)

Người của Chúa: Abraham, ông hãy nhớ một điều, Đức Chúa đã hứa với ông, mà Ngài thì luôn trung tín; vả lại, có điều gì kỳ diệu mà vượt được sức Đức Chúa hay không! Ông hãy nhớ kỹ điều này là: bằng giờ sang năm, khi chúng tôi ghé lại đây thì Bà Sara đã có cho ông một cậu con trai đấy, thôi, cơm no rượu say rồi chúng tôi xin phép ra đi! (lục tục đi)

Sara: (ra khỏi lều, vẻ ngại ngùng) – Xin các Ngài hãy lưu lại đã, lúc nãy có vị bảo là tôi cười, nhưng nào tôi dám cười!

Người của Chúa: Bà đã cười, bà hãy nhờ lời chúng tôi đấy nhé! Thôi, chúng tôi đi!

Cả hai ông bà: Vâng, tạ ơn Đức Chúa, kính chúc các vị bằng an (Hai người nhìn nhau trìu mến, màn đóng).

c) MÀN 3 : SÁT TẾ ISAÁC.

(Màn mở, cảnh túp lều, trời nhá nhem tối, Abraham ngồi bên ngoài như nghỉ ngơi, bỗng có ánh chớp loè, Abraham hoảng hốt, ngơ ngác).

Tiếng chúa: Abraham, Abraham!

Abraham: (Vội vàng quỳ sụp xuống) – Lạy Đức Chúa, này con đây!

Tiếng Chúa: Này Abraham, Ta rất hài lòng về ngươi, vì ngươi luôn giữ giao ước với Ta. Ta chỉ còn một việc duy nhất muốn ngươi làm đó là sáng sớm mai, ngươi hãy đem Isaác – đứa con mà Ta đã ban cho ngươi đi đến xứ Môrigia mà dâng nó làm của lễ toàn thiêu, ở trên một ngọn núi mà Ta sẽ chỉ cho ngươi!

Abraham: (Sụp ngồi xuống thất vọng) – Ôi, lạy chúa … (lại quỳ thẳng lên kiên quyết) – Vâng, lạy Đức Chúa, điều gì Đức Chúa muốn con xin thi hành! (Lại ngồi thụp xuống đau khổ, trời tối hẳn. Một lát sau, trời tảng sáng, tiếng gà gáy, có tiếng Abraham gọi trong lều)

Abraham: Bà ơi, Isaác ơi! Trời đã sáng rồi, dậy mau!

Sara: (Vẻ ngái ngủ) – Sao hôm nay ông lại dậy sớm thế!

Abraham: Dậy đi bà ơi, con trai ơi, tối hôm qua, Đức Chúa đã muốn tôi cùng Isaác đi tế lễ cho Người!

Sara: Vậy à, tôi dậy đây – (Gọi vọng) – Isaác ơi, dậy đi con, hôm nay con được cùng cha đi tế lễ cho Đức Chúa đấy!

Isaác: (Vẻ rất tỉnh) – Ôi, vậy à, con sướng quá, hôm nay thế là đã được đi tế lễ cùng cha rồi!

(Có tiếng Abraham thở dài, tiếng lục đục một lúc, trời tảng dần, Abraham cầm con dao cùng Isaác đeo bó củi bước ra. Abraham vẻ buồn rười rượi, Isaác vui vẻ vô tư, Sara bước ra có vẻ lo lắng vì thấy chồng không vui).

Sara: Ông ơi, sao hôm nay ông có vẻ hơi lạ, ông mệt à, hay là để tôi cho gia nhân đi cùng ông!

Abraham: Thôi bà, có gì đâu! Tôi đi đây – (Cao giọng) – Ta đi thôi con trai!

Isaác: Vâng! (ngoảnh lại) – Con đi mẹ nhé!

Sara: Được rồi, hai cha con đi bằng an! (Hai cha con vẫy chào đi thẳng, Sara vẫn đứng nhìn theo chưa hết vẻ lo ngại, cảnh dừng).

Dạo đàn và hát bài: tổ phụ Abraham sát tế con trai.(Hậu trường chuẩn bị sân khấu phần tế lễ Isaac).

(Sân khấu tối một chút rồi sáng hẳn, cảnh tự nhiên, đã có một bàn thờ kê sẵn, hai cha con đang xếp củi lên bàn thờ, Abraham cặm cụi làm vẻ đau khổ, Isaác ngược lại hết sức vui vẻ, vô tư).

Isaác: Cha ơi, mình xếp củi xong rồi nhưng con có thấy lễ vật đâu Cha? – (Cười dí dỏm) – Không lẽ cha chỉ đốt củi xông khói cho Đức Chúa thôi sao! – (Giật mình vì thấy Cha sầu não, vội chuyển thái độ ân cần) – Cha, con xin lỗi vì đã vô ý đùa với Cha! Nhưng mà … nhưng mà sao hôm nay con thấy cha có vẻ gì … kỳ lạ lắm! Cha, cha có chuyện gì buồn, hay cha không khoẻ, hay cha đang giận con … hả cha?

Abraham: (Nhìn con trìu mến) - !!!

Isaác: (Vẻ lấy lòng) – Cha, con chỉ đùa có tí thôi mà, cha đừng giận con nữa nhé, thôi bây giờ để con chất nốt mấy cây củi này nữa là xong, rồi cha con ta đi bắt lấy một con dê núi làm của lễ cho Đức Chúa! (Cúi xuống nhặt củi).

Abraham: (Thả dao, ôm chầm lấy con) – Isaác con ơi, cha chẳng buồn con đâu, cha cũng chẳng đau bệnh gì hết, cha rất thương con vì con là cả cuộc đời của cha! Nhưng con ơi, hôm nay, Thánh ý của Đức Chúa là muốn cha dùng con làm của lễ toàn thiêu kính dâng lên Ngài …!

Isaác: (Hoảng sợ, dẫy ra khỏi tay cha, lùi lại hai ba bước) – Cha! …

Abraham: (Đau khổ, nói trong nước mắt) – Con yêu, cha thương con hơn bản thân cha – (Bước đến ôm con) – nhưng ý của Đức Chúa làm sao cha dám làm trái lại. Con ơi, Cha rất thương con, thương con lắm nhưng cha phải vâng lệnh Đức Chúa thôi con ơi!

(Abraham khóc nức lên, Isaác rời khỏi tay cha, lùi lại vài bước nữa rồi quỳ sụp xuống. Abraham với lấy con dao tiến vài bước đến gần Isaác lưỡng lự, sau đó dứt khoát vung dao lên, bỗng có ánh sáng chói loà, tiếng Thiên Chúa vang lên dứt khoát)

Tiếng Chúa: Abraham, Abraham, hãy dừng ngay lại!

(Abraham giật mình dừng tay, còn để nguyên vị trí, hai cha con ngước lên trời ngơ ngác)

Tiếng Chúa: Ngươi đừng giơ tay làm hại đứa trẻ, đừng đụng đến nó! Bây giờ Ta đã biết ngươi là kẻ hết lòng kính sợ Đức Chúa. Đối với Ta, đến đứa con đầu lòng duy nhất mà ngươi cũng chẳng tiếc. Hãy nghe đây, hỡi Abraham, vì ngươi đã làm điều đó nên Ta sẽ lấy Danh Ta mà thề rằng: Ta sẽ thi ân giáng phúc cho ngươi, sẽ làm cho dòng dõi ngươi nên đông như sao trên trời, như cát bãi biển, dòng dõi ngươi sẽ chiếm được các thành trì của giặc. Mọi dân tộc trên địa cầu này sẽ cầu chúc cho nhau được phúc như dòng dõi ngươi, chính bởi ngươi đã vâng lời Ta!

(Tiếng Chúa dứt, hai cha con bàng hoàng một lát rồi ôm chầm lấy nhau sung sướng, bỗng có tiếng dê kêu, hai cha con cùng chạy đi và quay lại với con dê trong tay, đặt dê lên đàn tế lễ, châm lửa rồi quỳ sụp xuống)

Hai cha con: Lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của con, chúng con tạ ơn Ngài! (Màn đóng).

III. PHẦN III : ĐỨC MARIA: MẪU MỰC ĐỨC TIN

* LỜI DẪN :

Kính thưa Cộng đoàn!

Chúng ta vừa chiêm ngắm Abraham – Tổ phụ dân tộc Thánh, dân riêng của Chúa. Abraham đã nêu cho chúng ta gương mẫu một ĐỨC TIN TUYỆT HẢO: Ông luôn tín thác, tin tưởng và trung thành với Đức Chúa – Đấng đã làm cho ông biết bao điều kỳ diệu. Ông đã được mệnh danh là “Cha các kẻ tin”. Đức tin và lòng vâng phục của Abraham trở nên gương mẫu. Ông luôn đón nhận lời Chúa và đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa, ngay cả những khi đức tin của ông bị thử thách vượt qua mọi giới hạn. Đi dọc Lịch sử Cứu độ, chúng ta còn được chiêm ngắm biết bao gương mẫu nữa nơi các Tổ phụ Israel, như Maisen, như các thủ lãnh, Các Vua Do thái … và, vào thời viên mãn, chúng ta cũng sẽ được chiêm ngắm một mẫu gương tuyệt vời nữa nơi Đức Maria – người nữ tì của Thiên Chúa – bóng dáng của Lời hứa Cứu độ. Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, được tuyên xưng là “người diễm phúc vì Mẹ đã tin” (Lc 1,45).(x. Cánh Cửa Đức Tin số 14). Đức Maria đã nên gương mẫu ĐỨC TIN SỐNG ĐỘNG cho chúng ta như thế nào, hai đoạn hoạt cảnh ngắn sau đây sẽ chỉ ra cho chúng ta một bài học ĐỨC TIN thật quý giá.

* MÀN 1: TRUYỀN TIN

(Cảnh nội thất, Maria đang ngồi bên bàn đọc sách vẻ chăm chú, nhạc du dương êm đềm. Bỗng ánh chớp loà, ánh sáng quay cuồng, một Thiên thần xuất hiện uy nghi trước mặt Maria; Maria bàng hoàng, thả sách, đứng bật dậy lùi lại vài bước…)

Thiên thần: (Trịnh trọng chắp tay) – Kính chào trinh nữ đầy ân sủng! Trinh nữ hãy vui mừng lên vì Thiên Chúa luôn ở cùng trinh nữ!

Maria: (Từ sợ sệt ra bối rối) – Người … người là… ai, và … lời chào vừa rồi của người có ý gì mà phận nữ nhi của tôi không thấu hiểu được!

Thiên thần: Hỡi Trinh nữ Maria, xin đừng sợ! Ta là Thiên sứ Gabriel của Thiên Chúa; Ta được sai đến để báo cho Trinh nữ một tin vui mừng trọng đại: Trinh nữ rất đẹp lòng Thiên Chúa! Và này đây Trinh nữ sẽ thụ thai, sinh một con trại, đặt tên là Giêsu! Chính Người sẽ nên cao trọng và sẽ được gọi là Con Đấng Tối cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng Đavít Tổ phụ, Người sẽ trị vì nhà Giacóp đến muôn đời và Triều đại Người sẽ vô cùng vô tận!.

Maria: (Ngạc nhiên, bối rối hơn) – Thiên sứ đáng kính, việc mà Thiên sứ vừa nói xảy ra thế nào được, vì phận nữ tôi tuy đã đính hôn với Giuse nhưng nào đã biết đến việc vợ chồng?

Thiên thần: Trinh nữ hãy an tâm, người con mà trinh nữ sẽ cưu mang không bởi huyết tộc của Giuse, người bạn trăm năm của trinh nữ đâu!

Maria: Vậy thì chuyện Sứ thần nói càng không thể có!

Thiên thần: Không, có đấy! Chính Thánh thần sẽ ngự xuống trên Trinh nữ và quyền năng của Đức Chúa tối cao sẽ rợp bóng trên Trinh nữ. Vì vậy, Đấng mà Trinh nữ cưu mang và sinh ra chính là Đấng Thánh, là Con thiên Chúa!

Maria: Nhưng … !

Thiên thần: (Cắt ngang) – Trinh nữ hãy an tâm và vững tin! Kìa bà Elisabét, người chị họ của Trinh nữ tuy đã già rồi mà cũng đang cưu mang một người con trai. Người đã từng mang tiếng là hiếm hoi, vậy mà đã mang thai sáu tháng rồi! Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được!

Maria: (Từ từ quỳ gối, còn do dự, lo lắng …)

Thiên thần: Trinh nữ thân yêu, đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được!

Maria: (Tự tin hơn, ngẩng lên nhìn Thiên thần) – Vâng, phận tôi là nữ tì bất xứng! Xin Chúa cứ làm cho tôi như lời Thiên thần vừa nói! (Cúi đầu, cung kính).

(Nhạc nổi du dương, Thiên thần cung kính cúi chào Maria rồi biến đi trong ánh chớp, Đức Maria thinh lặng)

* MÀN 2: THĂM VIẾNG.

Lời dẫn:

Trước khi nói lời Xin Vâng, Mẹ Maria đã trải qua một hành trình đức tin. Xin Vâng không có nghĩa là thấy rõ con đường trước mặt Chúa muốn mình đi. Xin Vâng là mềm mại, buông mình cho Thiên Chúa dẫn đi, yên tâm không phải vì mình làm chủ được tương lai, nhưng vì tương lai của mình nằm trong tay Chúa. Xin Vâng không phải vì mọi sự đều sáng sủa và trơn tru, nhưng Xin Vâng ngay giữa đêm tối tăm gập gềnh. Xin Vâng là để cho Chúa sử dụng con người mình, là chấp nhận để cho những dự tính và ước mơ của mình bị tan vỡ. Nếu Đức Maria chấp nhận ý Thiên Chúa, chấp nhận cưu mang Con Thiên Chúa ngay khi chưa về chung sống với thánh Giuse, thì Mẹ cũng phải chấp nhận những hậu quả xảy ra sau đó. Có thể đã có những hiểu lầm suýt gây tan vỡ, nhưng quan trọng hơn cả là từ sau lời Xin Vâng đầu tiên, Đức Maria hiểu rằng tình yêu giữa mình và thánh Giuse đã đổi khác. Mẹ được mời gọi để dâng hiến trọn vẹn con người mình - cả hồn lẫn xác - cho Thiên Chúa, cho kế hoạch cứu độ của Ngài, cho Đức Giêsu Con Mẹ.

Sau tiếng Xin Vâng đầu tiên, Ngôi Hai Thiên Chúa đã làm người trong lòng Mẹ. Mầu nhiệm nhập thể đã bắt đầu ngay từ giây phút này. Chúng ta nhìn ngắm Con Thiên Chúa lớn lên từ từ như bao thai nhi khác. Cần 9 tháng 10 ngày để có thể mở mắt chào đời, cất tiếng khóc hạnh phúc.

Cưu mang Con Thiên Chúa trong lòng, hồng ân ấy thôi thúc Mẹ hân hoan và mang niềm vui đến với người chị họ cũng đang tràn đầy hạnh phúc, chia sẻ khó khăn với chị mình tuổi cao mà mang thai. …”Hồi ấy, bà Maria vội vã lên đường, đến miền núi, vào một thành thuộc chi tộc Giuđa. Bà vào nhà ông Dacaria và chào hỏi bà Êlisabét.Bà Êlisabét vừa nghe tiếng bà Maria chào, thì đứa con trong bụng nhảy lên, và bà được đầy tràn Thánh Thần, liền kêu lớn tiếng và nói rằng: "Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc. Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này? Vì này đây, tai tôi vừa nghe tiếng em chào, thì đứa con trong bụng đã nhảy lên vui sướng. Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em." (Lc 1,39-45).

“Đức tin hoạt động qua đức ái” (Gl 5,6) trở thành một tiêu chuẩn mới để hiểu biết và hành động, thay đổi toàn thể cuộc sống của con người (x. Rm 12,2; Cl 3,9-10; Ep 4,20-29; 2 Cr 5,17). Đức tin không có đức ái thì không sinh hoa kết quả, và đức ái mà không có đức tin thì sẽ là một tình cảm luôn bị sự nghi ngờ chi phối. Đức tin và đức ái cần nhau, đến nỗi đức này giúp đức kia đi trọn con đường của mình. Quả thật, có nhiều Kitô hữu hiến đời mình để yêu thương phục vụ những người cô đơn, bị gạt ra ngoài lề xã hội hoặc bị tẩy chay, coi họ như những người đầu tiên cần phải chú ý đến và như người quan trọng nhất cần được nâng đỡ, vì chính nơi họ phản ảnh dung nhan của Đức Kitô. (x.Cánh Cửa Đức Tin, số 14).

Đức tin đi với lòng mến. Lòng mến càng nhiều thì đức tin càng mạnh. Làm thế nào chúng ta có thể yêu mến Chúa, nếu chúng ta không dành thời giờ để tìm hiểu về Chúa qua Kinh Thánh, qua sự cầu nguyện, qua sách báo hay qua các phần thuyết giảng? Và khi yêu mến Chúa, chúng ta phải cố gắng thực hành lời Chúa vì Chúa Giêsu đã nói "ai yêu mến Thầy thì hãy giữ lời Thầy", và điều Chúa mong muốn là "anh chị em hãy yêu mến nhau, như Thầy yêu mến anh chị em".

Hát bài: vì yêu Isave (múa phụ họa).

(Cảnh nhà Giacaria. Giacaria đang thẩn thơ quanh sân, Maria đi vào)

Maria: (Cao giọng) – Ôi, anh Giacaria! Nghe tin anh chị có tin vui nên em vội vã lên thăm đây!

Giacaria: (Vẻ mừng rỡ, chỉ diễn tả bằng tay và nét mặt vì bị câm) …

Elisabet: (Từ trong nhà chạy ra, vẻ mừng rỡ, bỗng chững lại xoa bụng ngạc nhiên) – Ôi, Maria, em của chị!

Maria: (Ôm choàng lấy Êlisabet) – Maria, em là người thật có phúc giữa các người phụ nữ và người con em cưu mang cũng được chúc phúc!

Maria: (Ngại ngùng) – Kìa, chị nó gì vậy?

Êlisabet: (Cầm chặt tay Maria, rạng rỡ, xúc động) – Chị nói thật lòng đấy, chị cũng thật diễm phúc! Bởi đâu chị được Mẹ Thiên Chúa viếng thăm? Vì này tai chị vừa nghe lời em chào thì hài nhi đã nhảy mừng trong lòng chị! Em thật có phúc vì đã luôn tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em! (Cười sung sướng và gật đầu dí dỏm với Giacaria)

Giacaria: (Cười vui vẻ, ra hiệu rồi đi vào nhà)

Maria: Chị ơi, em thật hạnh phúc vì phận em hèn mọn mà Đức Chúa vẫn thương tuyển chọn. Không biết rồi đây em phải làm sao cho xứng đáng?

Êlisabet: Em không phải lo, Đức Chúa đã chọn em, Ngài sẽ lo lắng mọi sự cho em thôi!

Maria: Ôi, em sung sướng quá, sung sướng cho cả chị! Thôi, Chị ơi, Đức Chúa đã thương chị em ta, Ngài không kể đến phận hèn mọn của chị em ta, chị em ta hãy dâng lên Ngài lời tri ân và ngợi khen chị nhé!

(Hai chị em nhìn nhau trìu mến, quỳ xuống ngửa mặt lên, nghiêm trang sốt sắng hát kinh Magnificát)

Maria: (Đến nâng Êlisabet dậy) – Thôi, dậy đi chị, chị em ta cùng vào nhà xem anh Giacaria làm gì để đãi chị em ta!

Êlisabet: (Như chợt nhớ ra điều gì) – Thế em định ở chơi với chị có lâu không?

Maria: (Cười dí dỏm trêu) – Đã sợ tốn cơm à? Em nghe Thiên thần báo tin là chị đã có thai sáu tháng rồi, chị đã lớn tuổi, anh Giacaria lại lâm căn bệnh khó hiểu … nên em đã xin anh Giuse cho em lưu lại giúp đỡ chị cho tới lúc chị mãn nguyệt khai hoa thì em xin về!

Êlisabet: Đúng em là người của Thiên Chúa, chị cám ơn em nhiều lắm. Thôi ta đi vào thôi!

(Hai chị em dìu nhau vào nhà trong nền nhạc).

IV. PHẦN 4 : CHÚA GIÁNG SINH: ĐỈNH CAO CỦA NIỀM TIN

* LỜI DẪN :

Kính thưa cộng đoàn!

Cách đây 2012 năm, một Hài Nhi rất đặc biệt được sinh ra. Người là Thiên Chúa – Thiên Chúa trở thành con người. Hài nhi này là Chúa Giêsu Kitô. Nhưng Thiên Chúa được ra đời không phải là chốn cung vàng điện ngọc. Người được sinh ra trong một gia đình nghèo khó. Người đã trải qua những điều kiện và những hoàn cảnh khó khăn nhất.

Tin mừng Lc 2,1-20, kể lại một câu chuyện tầm thường nhất nhưng cũng là vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại.

1) Một biến cố tầm thường nhất :

Một gia đình nghèo khổ không tìm ra chỗ trọ trong lữ quán. Số người Do thái trở về Giêrusalem để làm sổ khai sinh quá đông. Hai ông bà Giuse, Maria không có tiền để vào khách sạn, vào các nhà nghỉ đắt tiền. Các quán trọ đã hết chỗ. Mùa tăng giá và bắt chẹt khách hàng. Tăng giá để loại trừ người nghèo. Ở đó không có chỗ trống cho tình người. Hai ông bà đành phải qua đêm ngoài đồng hoang tại Bêlem, trong một hang đá nơi dành riêng cho chiên bò nghỉ ngơi. Đêm đông hôm ấy trong cảnh sương tuyết gió lạnh, Maria đã hạ sinh một con trai. Bà đặt con trẻ trong máng cỏ. Bạn hữu thân nhân chẳng có ai. Chỉ có vài mục đồng đến thăm viếng. Sự kiện chỉ có thế. Thật đơn giản.

2) Một biến cố vĩ đại nhất.

Thế nhưng, em bé ra đời trong cảnh nghèo hèn đó lại là một vị Thiên Sai. Ngài đã cắt đôi dòng lịch sử loài người thành hai phần, trước công nguyên và sau công nguyên, trước và sau ngày giáng sinh của Ngài. Em bé ấy không phải là một nhà bác học, không phải là một nhạc sĩ mà chính là Thiên Chúa, là Ngôi Lời vĩnh cửu của Chúa Cha, Đấng cao sang, quyền năng, Đấng sáng tạo vũ trụ hôm nay đã làm người. Ngài giáng sinh làm người trong thân phận một em bé yếu ớt nằm trong máng cỏ hang lừa chứ không phải trong một cung điện sang trọng lầu son gác tía. Thiên Chúa đã chọn làm một người nghèo, sinh ra trong một gia đình nghèo chứ không phải quyền quý giàu sang.

Bởi vậy, biến cố Giáng sinh hôm nay bên ngoài xem ra thật tầm thường nhưng lại là một biến cố vĩ đại. Quá vĩ đại đến nổi nhiều người đã không tin. Ngay trong số những người tin có Thiên Chúa cũng đã có người không dám nghĩ rằng Thiên Chúa đã xuống thế làm người. Tin vào một Thiên Chúa là Đấng thần linh thì hầu hết các tôn giáo đều tin nhận; nhưng tin vào một Thiên Chúa nhập thể làm người, chấp nhận thân phận con người thì còn rất nhiều tranh luận. Làm sao một Thiên Chúa lại có thể làm những chuyện quá tầm thường như được cưu mang, được sinh ra ? Một sự kiện táo bạo, táo bạo đến độ sững sờ sợ hãi,chẳng phải vì khó tin giật gân cho bằng vì không dám tin vào điều vượt tầm quan niệm.Thiên Chúa Đấng khôn tả của triết học bỗng dưng trở thành diễn tả được,Thiên Chúa Đấng vô hình của tôn giáo đã chọn cho mình một thể thức xuất hiện hữu hình,và Thiên Chúa Đấng cứu độ trước đây chỉ muốn bày tỏ với con người khốn khổ qua trung gian của các thụ tạo được tuyển chọn,giờ đây lại ngõ lời trực tiếp với con người qua Hài Nhi bé bỏng nắm trong máng cỏ.Quả là sự kiện táo bạo.

Giáo hội chúng ta suốt hơn 2000 năm qua luôn kiên trì bảo vệ niềm tin vững chắc vào mầu nhiệm Nhập Thể của Đức Giêsu.

Đã là mầu nhiệm thì con người chẳng có thể nào suy cho cùng được. Nhưng mầu nhiệm cao vời lại không phải là một cách cửa đóng kín không cho ai bước vào; mà ngược lại, mầu nhiệm đức tin Kitô giáo luôn là một mầu nhiệm của mạc khải, nghĩa là một chân trời bao la, mời gọi, rộng mở để con người có thể mặc sức tung hoành, khám phá mà không bao giờ có thể tát cạn được. Có thể nói được mầu nhiệm là một sự phong phú tự bản chất, nghĩa là luôn sống và luôn triển nở mà khi nào không còn phong phú và triển nở nữa thì mầu nhiệm cũng không còn là mình nữa.

Như thế, mầu nhiệm nhập thể cũng thực sự là chân trời bao la của hành trình yêu thương; hành trình “mầu nhiệm”, nghĩa là hành trình không bao giờ có thể hoàn tất nhưng luôn phong phú và mở ra mãi.

Ngôi Hai Thiên Chúa đã nhập thể, đã đến với thế gian trong cung lòng Trinh nữ Maria. Ngôi lời đã sinh ra làm người và ở giữa chúng ta.

Giờ đây, kính mời cộng đoàn cùng chiêm ngắm Mầu nhiệm Nhập thể của Chúa và hãy xác định thái độ sống Đạo hôm nay của mình như thế nào ở giữa thế gian dựa theo những tiểu phẩm hoạt cảnh sau đây.

* VÀO HOẠT CẢNH.

(Màn đêm bao trùm cảnh vật. Khung cảnh thành Bêlem hiện ra. Giuse tay cầm gậy, đeo hành trang trên vai. Đi sau là Maria đang nặng nề cất bước).

Giuse: Maria trông kìa: Bêlem kinh thành vua Đavít. Ta tiến vào để cho kịp ghi tên. Chiếu chỉ vua nào dám trái lệnh trên, phải đăng kí khắp mọi miền đất nước! (Quay lại Maria) – Maria! Chắc đường xa mình đã mệt.

Maria: Giuse ơi! Tới đâu rồi anh nhỉ! Lữ quán nào ta đến để nghỉ chân. Đường đi xa, mệt mỏi khắp châu thân, và có lẽ… như đã gần… anh ạ!

Giuse: (Giật mình lo ngại) – Ôi! Lạy Chúa! Đường xa xôi vất vả, lại đến ngày mình mãn nguyệt khai hoa, giữa đêm đông giá buốt lại không nhà, tìm đâu được chỗ cho nàng trú ngụ (Im lặng trầm tư trong chốc lát) – Kìa, lữ quán xa xa ta đến liều hỏi thử (đưa tay chỉ) – Chỉ mong rằng được lưu ngụ qua đêm! (Cả hai người dìu nhau tới gõ cửa lữ quán, cửa mở, chủ quán bước ra, vẻ đon đả).

Chủ quán 1: Ồ, hân hạnh, thật hân hạnh, xin chào ông bà! Chắc ông bà cần quán trọ?

Giuse: Xin chào ông, chúng tôi là lữ khách, đường đi xa đêm tối lại không nhà, xin rộng lòng giúp đỡ bước can qua, cho trú tạm trong nhà qua đêm vắng.

Chủ quán 1: (Khoác lác, vừa nói vừa làm cử điệu) – Quán của tôi có tên là ánh sáng, cứ bước vào sang trọng lắm đi thôi, mọi tiện nghi có đầy đủ khắp nơi. Khỏi lo sợ, khỏi ngại ngùng băng giá. Quán của tôi khắp vùng đều biết cả, mấy hôm nay khách tất cả về đây mà hễ đến là có chỗ ở ngay! (Cười hề hề) – Nhưng… cũng phải có đầy túi bạc!

Giuse: Thưa ông chủ quán… chúng tôi xin ông… (ngập ngừng).

Chủ quán 1: (Ngắt lời, chăm chú ngắm nhìn hai ông bà từ đầu đến chân rồi lắc đầu bĩu môi) – Ồ, không được, không được! Ông có biết là kinh thành ánh sáng, lữ quán đây dành cho kẻ có tiền, chứ ông bà kẻ đói khó nghèo hèn, sao cả dám mon men mà gõ cửa… Thôi! Đi đi, đi mà kiếm nơi khác!

Maria: (Tiến lên một bước nói xen vào) – Ông chủ quán, xin làm ơn giúp đỡ…

(Chủ quán không trả lời, đóng ập cửa lại. Giuse và Maria lủi thủi đi ra không ai nói với ai lời nào. Bước sang quán thứ hai gõ cửa).

Chủ quán 2: (Mở cửa bước ra xum xoe đon đả) – Xin chào ông bà! Quý hoá quá, mời ông bà vào quán trọ chúng tôi! Quán chúng tôi lừng tiếng khắp nơi nơi, đã tìm đến không thể rời chân bước!

Giuse: Bà chủ quán! Giữa mùa đông giá buốt, bà làm phúc cho trú tạm đêm nay, ơn cao dày ghi khắc mãi từ đây, xin mở rộng lòng nhân từ giúp đỡ…

Chủ quán 2: (Nói kéo dài giọng, nguýt mắt, hai tay chống nạnh) – Ôi dào, vậy mà tôi cứ ngỡ ông bà đây là những kẻ có tiền… trời ơi! Nhìn đói khổ thế này, mà dám đến làm phiền, lếu láo thật, đi! Đi liền cho khuất mắt! (Giuse và Maria cúi đầu lủi thủi bước ra, Giuse ngao ngán ngước mắt nhìn trời, giọng tư lự)

Giuse: Đêm thanh vắng, bốn bề sương giá buốt, đường gập ghềnh thêm mỏi bước chồn chân. Thương cho nàng, lòng tôi thật phân vân, ngày mãn nguyệt lại trăm phần đau khổ… (Nhìn Maria âu yếm, lo lắng) – Trong kinh thành không tìm ra chỗ trọ, nơi hoang vu nào biết ngỏ cùng ai (Ngước mắt nhìn lên trời xướng cao giọng) – Cảnh khốn cùng xin trợ giúp Chúa ơi!

Maria: Này anh ơi, ta hãy kíp đi thôi, đằng xa ấy hình như là ánh sáng (Đưa tay chỉ về phía hang đá).

Giuse: (Nhìn theo hướng Maria chỉ) – Ồ, đúng rồi! Cánh đồng xa bát ngát! Xa xa kia, từng ánh lửa lập loè, trẻ mục đồng chắc đốt lửa đêm khuya, để sưởi ấm giữa bốn bề sương tuyết.

Maria: Thôi nhanh lên! Trong mình tôi cảm biết, sắp đến rồi, giờ mãn nguyệt khai hoa. Hang bò lừa ta trú ngụ làm nhà, cho qua khỏi giờ khai hoa mãn nguyệt.

Giuse: Nào ta đi thôi. (Giuse dìu Maria từ từ vào hậu trường trong tiếng gió rít).

* LỜI DẪN NỐI :

Kính thưa Cộng đoàn!

Chúng ta không nên để ý nhiều đến thái độ của những người đại diện cho dân Israel, cũng chỉ nên đồng cảm và trầm lắng lòng mình lại một chút thôi trước hoàn cảnh hết sức nghiệt ngã của Thánh gia Nazarét trên cánh đồng Bêlem năm xưa… chúng ta hãy để tâm trí chúng ta đi ngược thời gian, đi đến tận thành Bêlem xa xôi của xứ Palestin năm xưa để cùng say sưa với vũ trụ, với muôn loài, với Israel, với toàn nhân loại và với muôn ngàn Cơ binh Thiên quốc trong niềm hân hoan sung sướng vì Ngôi Lời – Đấng Cứu độ của chúng ta đã Giáng sinh – Tin mừng trong đại của muôn dân.

(Bật điện hang đá, giật chuông, tấu nhạc, phát tiếng khóc của trẻ sơ sinh, có thể mời Cộng đoàn đứng, vỗ tay).

* Vũ khúc Thiên thần.

* Múa Giáng Sinh.

VI. LỜI KẾT :

Kính thưa cộng đoàn!

Phần hoạt cảnh mà chúng ta vừa theo dõi trong đêm canh thức mừng Chúa Giáng sinh năm nay, hướng chúng ta về hai mẫu mực đức tin trong Thánh Kinh. Tổ phụ Abraham thời Cựu ước và Đức Maria thời Tân ước.

Tin là đáp lại một tiếng gọi để vươn xa hơn, cao hơn chính bản thân; là bước đi rộng hơn lãnh vực khả giác, khả tri và khả nghiệm.

Tin là một thái độ của con người toàn diện quyết định vượt xa hơn mọi thực tại hữu hình, mọi lý luận phàm trần, để dấn thân trọn vẹn cho một lẽ sống mới, trong tương quan huyền nhiệm với Đấng Tuyệt Đối.

Đức tin là hạt giống thiên ân. Hạt giống đức tin vun trồng nhờ ơn thánh và sự nỗ lực của từng cá nhân. Tin là đòi hỏi chúng ta chấp nhận những điều vượt trên sự lý giải của lý trí. “Tin là chấp nhận vô điều kiện và bước theo” (ĐHY Nguyễn văn Thuận).

Đối với Kitô giáo, đức tin mang một tính chất lịch sử đặc biệt, vì Lời của Thiên Chúa đã thực sự trở thành Ngôi Lời, sống giữa nhân loại (x. Ga 1, 9-10). Vì thế, tin có nghĩa là tin ở, tin vào Đức Kitô. “Những ai đón nhận và tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa” (Ga, 1, 12), nghĩa là ngay từ đời này người tín hữu đã được tham dự vào nguồn sống vô biên của Thiên Chúa, nhờ Đức Kitô. (x. Ga 3, 16.36). Do đó mà Thánh Phaolô đã xác quyết một cách mạnh mẽ: “Tôi biết tôi tin vào ai” (2Tm 1, 12). Đó là một đức tin hoàn toàn sáng suốt và chắc chắn đối với chính mình. Hơn nữa, trong Đức Kitô, những kẻ tin Người “được ơn hiểu biết các mầu nhiệm Nước Trời” (Mt 13, 11). Thực sự họ “đã trở nên phong phú về mọi phương diện, phong phú vì được nghe Lời Chúa và hiểu biết mầu nhiệm của Người” (1Cr 1, 5). Đó mới là sự hiểu biết vượt trên mọi hiểu biết, đưa con người đến ơn cứu độ muôn đời.

Và giờ đây Giáng Sinh đã đến. Niềm vui đã oà vỡ trong tim của mỗi người chúng ta. Một niềm vui thánh thiện, sâu lắng vì chúng ta thật sự đã cảm nhận được thế nào là vị Thiên Chúa ở cùng chúng ta, thế nào là Giêsu cứu thế, thế nào là “Thiên Chúa yêu thế gian đến nổi đã ban Con Một, để ai tin vào Con cùa Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16). Quả thật với mỗi người chúng ta đêm nay, niềm vui Giáng Sinh, Phụng vụ Giáng Sinh không phải chỉ là một lễ hội bình thường, mà là một Tin Mừng đích thực như Tin Mừng mà các thiên sứ đã báo cho các mục đồng thuở xưa nơi đồng vắng Bêlem: “Trong vùng ấy có những người chăn chiên sống ngoài đồng…bổng sứ thần Chúa trong vinh quang sáng láng hiện ra loan báo rằng: “Anh em đừng sợ. Nầy tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là niềm vui cho toàn dân: là hôm nay, trong thành vua Đavít, Đấng Cứu thế đã giáng sinh…”.

Giờ đây, chúng ta hãy hiệp cùng các em thiếu nhi lời reo mừng, lòng hân hoan mừng Chúa Giáng sinh 2012 với tất cả lòng tin và mến yêu.

VII. Kiệu Chúa Hài Đồng

VIII. Kiệu đến trước lễ đài, đặt Chúa Hài Đồng vào máng cỏ, bắt đầu thánh lễ ĐÊM GIÁNG SINH.

 

 

 

HÌNH NGẪU NHIÊN

logo-nt_01.jpg

SỐNG LỜI CHÚA HÔM NAY

 

TÔN VINH VÀ QUẢNG BÁ LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA THIÊN CHÚA! CHÚA NHẬT II PHỤC SINH NĂM A (27/04/2014)

 

LÀM CHỨNG VÀ RAO GIẢNG CHÚA KI-TÔ PHỤC SINH! ĐẠI LỄ MỪNG CHÚA PHỤC SINH NĂM A (20/04/2014)